Tên đơn vị: CÔNG TY NHIỆT ĐIỆN NGHI SƠN – CHI NHÁNH TỔNG CÔNG TY PHÁT ĐIỆN 1

Địa chỉ: Km 11, đường 513, xã Hải Hà, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa

Số điện thoại: 0373-2613456         Số fax: 0373-2613333

Công ty Nhiệt điện Nghi Sơn 1 được thành lập ngày 21/10/2013, với nhiệm vụ chính là quản lý vận hành, bảo dưỡng sửa chữa và mua sắm thiết bị Nhà máy Nhiệt điện Nghi Sơn 1.

Với tổng mức đầu tư là 22.260 tỷ đồng, Nhà máy Nhiệt điện Nghi Sơn 1 là một trong hai nhà máy của Trung tâm Điện lực Nghi Sơn. Nhà máy được khởi công xây dựng ngày 03/7/2010, tổ máy số 1 hòa lưới điện quốc gia ngày 27/6/2013, tổ máy số 2 hòa lưới điện quốc gia ngày 07/10/2013.

Với công suất 600 MW, sản lượng điện hàng năm là 3,6 tỷ kWh, Nhiệt điện Nghi Sơn 1 đã góp phần đảm bảo cung cấp nguồn điện an toàn và kinh tế cho khu vực Bắc Trung bộ, góp phần phát triển kinh tế cho vùng Nam Thanh Hóa và Bắc Nghệ An và Khu kinh tế Nghi Sơn.

Ngày 27/12/2017, Tập đoàn Điện lực Việt Nam chuyển giao Chủ đầu tư Dự án Nhà máy Nhiệt điện Nghi Sơn 1, thuộc Công ty Nhiệt điện Nghi Sơn 1 từ Tập đoàn Điện lực Việt Nam về Tổng Công ty Phát điện 1.

Ngày 11/01/2018, Tổng Công ty phát điện 1 đã ban hành Quyết định thành lập Công ty Nhiệt điện Nghi Sơn – Chi nhánh Tổng Công ty Phát điện 1.

Tên đầy đủ: Công ty Nhiệt điện Duyên Hải – Chi nhánh Tổng Công ty phát điện 1

Địa chỉ: Ấp Mù U, xã Dân Thành, Thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh
Điện thoại: (+84) 0294 3923222                   Fax: (+84) 0294 3923243

Công ty Nhiệt điện Duyên Hải được thành lập ngày 29/01/2015, có nhiệm vụ chính là sản xuất và kinh doanh điện năng; quản lý vận hành các nhà máy Nhiệt điện tại Trung tâm Điện lực Duyên Hải và Cảng biển Trung tâm Điện lực Duyên Hải.

Tính hết năm 2017, tổng sản lượng điện sản xuất của Công ty đạt gần 16 tỷ kWh; tổng doanh thu gần 21.142 tỷ đồng, lợi nhuận 3.732,8 tỷ đồng. Từ đó góp phần đảm bảo cung cấp điện ổn định cho các tỉnh, thành phía Nam; giảm áp lực truyền tải cao trên đường dây 500 kV Bắc – Nam.

Đồng thời, Công ty Nhiệt điện Duyên Hải còn tăng cường công tác sửa chữa, bảo dưỡng thiết bị đảm bảo vận hành an toàn, tin cậy cho các tổ máy; tích cực tham gia công tác bảo vệ môi trường xung quanh nhà máy; tạo việc làm cho người dân trong khu vực cũng như thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Trà Vinh và vùng phụ cận.

Nghệ An là tỉnh có diện tích tự nhiên lớn nhất nước cùng hệ thống sông ngòi dày đặc. Những con sông đều bắt nguồn từ "mái nhà" Trường Sơn với nhiều bậc thang, có độ dốc cao tạo ra những dòng thác, lũ hung dữ, đe doạ cuộc sống của người dân về mùa mưa bão, nhưng đây cũng chính là tiềm năng to lớn để phát triển thuỷ điện.

Công ty Thuỷ điện Bản Vẽ được thành lập ngày 22 tháng 4 năm 2011 bởi Hội đồng thành viên Tập đoàn Điện lực Việt Nam. Hiện nay Công ty đang trực tiếp quản lý vận hành dự án Nhà máy Thủy điện Bản Vẽ với 2 tổ máy có tổng công suất 320 MW, sản lượng điện bình quân trên 1 tỷ kWh/ năm. Thuỷ điện Bản Vẽ là công trình thuỷ điện đa mục tiêu: phát điện hoà lưới điện quốc gia và cho nước bạn Lào, cung cấp nước sinh hoạt, sản xuất, đẩy mặn, chống lũ cho vùng hạ lưu sông Cả. Hồ chứa nước có diện tích lưu vực lớn - 8.700 km2, dung tích chứa 1.700 triệu m­3 góp phần điều hoà được khí hậu tiểu vùng; cải thiện môi trường, môi sinh và phát triển du lịch, vận tải và nuôi trồng thủy sản, mang lại nhiều đổi thay cho nhân dân vùng dự án. Ngoài ra, Công ty đã hoàn thành đầu tư xây dựng các dự án: Thủy điện Quảng Trị 64 MW, Thủy điện Nậm Mô 18 MW, Thủy điện Nậm Nơn 20 MW, mở đầu cho việc xây dựng một số công trình thuỷ điện khác trong tương lai. 

Mục tiêu của Công ty Thủy điện Bản vẽ là phấn đấu trở thành doanh nghiệp phát triển bền vững, có vị thế vững chắc trong ngành điện Việt Nam. Để đạt mục tiêu này, Công ty sẽ kiên trì thực hiện tiếp những bài học đã từng áp dụng thành công trong nhiều năm qua. Đó là: Đoàn kết, chỉ đạo quyết liệt, kỉ cương- kỉ luật; chú trọng nguồn nhân lực; xây dựng văn hóa doanh nghiệp và văn hóa EVN, gắn lợi ích công ty với lợi ích cộng đồng.

Trên bậc thang thứ 2 của Sông Đồng Nai, cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 250Km về phía Đông Bắc và cách Thành phố Đà Lạt khoảng 45Km về phía Tây Nam, Nhà máy Thủy điện Đại Ninh (300MW) được khởi công xây dựng ngày 10/5/2003 từ nguồn vốn vay ODA của Chính phủ Nhật Bản. Nhà máy chính thức được đưa vào vận hành kể từ đầu năm 2008. Trong 5 năm qua, nhà máy đã sản xuất được 5,6 tỷ kWh điện với hệ số khả dụng cao, tuyệt đối an toàn. Thủy điện Đại Ninh, ngoài nhiệm vụ chính là cung cấp điện cho Hệ thống điện quốc gia, hàng năm còn bổ sung khoảng 770 triệu m3 nước từ lưu vực sông Đồng Nai để phục vụ sản xuất, giữ cho hàng chục ngàn hecta đất nông nghiệp của huyện Bắc Bình tỉnh Bình Thuận - nơi có lượng mưa trung bình thấp nhất cả nước tránh được nguy cơ sa mạc hóa. Nước xả từ thủy điện Đại Ninh còn là nguồn thủy năng cho Thủy điện Bắc Bình (33MW). Công trình thủy điện Đại Ninh đã tham gia cải thiện khí hậu trong vùng và tạo cảnh quan môi trường, tạo điều kiện phát triển du lịch sinh thái. Ngoài ra, hàng năm Công ty đóng thuế và phí dịch vụ môi trường rừng với con số lên tới 140 tỷ đồng. Đây là một nguồn tài chính quan trọng đóng góp cho ngân sách địa phương. Định hướng phát triển của Công ty là: đảm bảo vận hành an toàn ổn định các tổ máy thủy điện Đại Ninh để cung cấp điện cho Hệ thống điện quốc gia; phát huy tinh thần sáng kiến, sáng tạo, tự thiết kế và các thế mạnh khác để phục vụ nhu cầu sản xuất của Công ty; đẩy mạnh hoạt động tư vấn giám sát, lắp đặt thiết bị thí nghiệm, hiệu chỉnh, thực hiện dịch vụ vận hành, bảo trì cho các nhà máy thủy điện trên phạm vi cả nước; Khai thác lợi thế của Công ty về phát triển dịch vụ du lịch sinh thái, kinh tế rừng, khai thác lòng hồ Thủy điện Đại Ninh cũng như đầu tư vào các dự án nguồn điện khác, góp phần vào sự phát triển đi lên của ngành điện nói riêng và đất nước nói chung.

Hình ảnh những con đập thủy điện vững chắc bên hồ nước trong xanh tiệp với màu trời xanh biếc trong các bức ảnh này là các đập chính của các nhà máy thủy điện   thuộc Công ty Thủy điện Đồng Nai, có trụ sở chính đặt tại thành phố cao nguyên Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

Công ty Thủy điện Đồng Nai được thành lập và chính thức đi vào hoạt động từ tháng 2 năm 2011. Ngoài chức năng chính là quản lý vận hành các nhà máy thủy điện Đồng Nai 3 & 4, Công ty còn có các ngành nghề khác bao gồm: quản lý vận hành bảo dưỡng sửa chữa, cải tạo các thiết bị điện, các công trình thủy công, kiến trúc của nhà máy điện; thí nghiệm hiệu chỉnh thiết bị điện, gia công cơ khí; Sản xuất và kinh doanh điện năng; tham gia thị trường phát điện cạnh tranh.

Công trình thủy điện Đồng Nai 3& 4 được khởi công xây dựng năm 2004 trên thượng nguồn sông Đồng Nai thuộc địa bàn 2 tỉnh Lâm Đồng và Đắk Nông. Nhà máy Thủy điện Đồng Nai 3 (2x90MW) có đập chính cao 107,5m, dài 572m, có sản lượng điện thiết kế bình quân hàng năm khoảng 607 triệu kWh. Kể từ khi chính thức phát điện đến ngày  06/12/2013, sản lượng điện năng lũy kế của nhà máy đã đạt khoảng 845,5 triệu kWh.

Nhà máy thủy điện Đồng Nai 4 (2x170MW) có sản lượng điện thiết kế bình quân hàng năm đạt 1,1 tỉ kWh. Kể từ khi chính thức hòa lưới điện quốc gia cho tới ngày 06/02/2013, sản lượng điện năng lũy kế của Nhà máy đã đạt trên 1 tỷ kWh điện.

Lãnh đạo và toàn thể cán bộ, nhân viên Công ty Thủy điện Đồng Nai cam kết thực hiện các nguyên tắc và định hướng, đó là: Huy động, khai thác, sử dụng các nguồn lực thích hợp để chỉ đạo, điều hành, tổ chức sản xuất, cung ứng điện năng an toàn, chất lượng, hiệu quả và liên tục phục vụ phát triển kinh tế-xã hội của đất nước; Thực hiện vận hành, điều tiết các hồ chứa an toàn, đảm bảo môi trường sinh thái; kiểm soát chặt chẽ môi trường, điều kiện an toàn - vệ sinh lao động; Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để hoàn thành tốt nhất mục tiêu, nhiệm vụ được giao; Quan tâm ứng dụng các tiến bộ khoa học về quản lý điều hành và quản lý kỹ thuật để nâng cao hiệu quả hoạt động; Duy trì, liên tục cải tiến để nâng cao hiệu lực, hiệu quả của Hệ thống quản lý chất lượng phù hợp với ISO 9001./.

Có trụ sở chính tại Thành phố trẻ Đà Nẵng, trung tâm kinh tế - chính trị lớn của cả nước tại khu vực miền Trung, Công ty thủy điện Sông Tranh được Tập đoàn Điện lực Việt Nam và Tổng Công ty Phát điện 1 giao nhiệm vụ quản lý, vận hành Nhà máy thủy điện Sông Tranh 2, công suất 190MW (2 x 95MW). Nhà máy được xây dựng trên địa bàn huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam; là dự án đa mục tiêu gồm: bổ sung cho hệ thống điện Quốc gia sản lượng điện trung bình khoảng 679,6 triệu kWh/năm; chống lũ cho vùng hạ du Nhà máy; và tạo nguồn nước bổ sung vào mùa kiệt đáp ứng nhu cầu phục vụ nước sinh hoạt, công nghiệp, ngăn mặn cho vùng đồng bằng hạ lưu, góp phần phát triển kinh tế xã hội của khu vực.

Sau 5 năm triển khai xây dựng từ tháng 3/2006, Nhà máy chính thức phát điện hòa vào lưới điện quốc gia từ tháng 10/2010. Sau hơn 2 năm chính thức được đưa vào vận hành,  Nhà máy đã phát lên lưới điện Quốc gia 1,089 tỷ kWh và nộp thuế cho địa phương 102,857 tỷ đồng, góp không nhỏ vào quá trình xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.

 Hiện nay, Công ty đang từng bước hoàn thiện bộ máy quản lý, vận hành và sửa chữa nhằm đáp ứng tốt yêu cầu về vận hành an toàn, hiệu qủa Nhà máy thủy điện Sông Tranh 2. Trong tương lai, ngoài việc thực hiện nhiệm vụ quản lý, vận hành nhà máy thủy điện Sông Tranh 2, Công ty sẽ tập trung vào việc thực hiện và phát huy các lợi thế của đội ngũ cán bộ, công nhân viên như: Cung cấp dịch vụ sửa chữa, bảo dưỡng, đại tu, cải tạo, nâng cấp thiết bị điện, công trình điện, thí nghiệm hiệu chỉnh các công trình điện; Tư vấn quản lý dự án, tư vấn lập dự án đầu tư, tư vấn đấu thầu, tư vấn giám sát thi công các công trình nhà máy điện, giám sát lắp đặt thiết bị nhà máy điện, cơ khí thủy lực, các công trình xây dựng, công trình đường dây và trạm biến áp, thiết bị điện, thiết bị quan trắc, thông tin, các công trình công nghiệp và dân dụng, công tác chuẩn bị sản xuất cho các nhà máy thủy điện và đào tạo nguồn nhân lực cho quản lý và vận hành, sửa chữa, bảo dưỡng nhà máy thủy điện… cho các đơn vị trong và ngoài ngành Điện.

Với đội ngũ cán bộ, kỹ sư có trình độ cao, dày dạn kinh nghiệm, công ty có nhiều lợi thế cũng như cơ hội phát triển thành một đơn vị mạnh của Tổng công ty phát điện 1 trong tương lai.

Là “đứa con đầu lòng” của ngành công nghiệp Điện lực Việt Nam, Nhà máy Nhiệt điện Uông Bí tính đến nay đã có hơn nửa thế kỷ xây dựng, phát triển, đóng góp rất lớn cho ngành Điện đất nước.

Được khởi công xây dựng đúng vào ngày sinh nhật Bác Hồ kính yêu 19/5/1961, sau gần 3 năm thi công với sự giúp đỡ của chuyên gia Liên Xô, nhà máy đã hoàn thành xây dựng giai đoạn 1 với 2 tổ máy, công suất mỗi tổ máy 12 MW. Ngày 20/11/1963, dòng điện đầu tiên của nhà máy đã hòa lưới điện miền Bắc. Ngày 18/01/1964, nhà máy vinh dự được đón Thủ tướng Phạm Văn Đồng về dự Lễ khánh thành.

Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, dù chiến tranh ác liệt nhưng CBCNV trên công trường vẫn kiên cường bám trụ, vừa sản xuất, vừa chiến đấu bảo vệ nhà máy, vừa tiếp tục mở rộng 2 tổ máy, nâng tổng công suất của nhà máy lên 48 MW. Sau năm 1973, thêm 2 tổ máy 55 MW được đưa vào hoạt động, nâng công suất lắp đặt của nhà máy lên 158 MW.

Sau ngày đất nước thống nhất, NM Nhiệt điện Uông Bí tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp của mình, sản xuất nhiều điện năng phục vụ xây dựng đất nước. Do nhu cầu phát triển của phụ tải, để đáp ứng đủ điện, Chính phủ đã quyết định đầu tư mở rộng Nhà máy Nhiệt điện Uông Bí - Uông Bí mở rộng 1 (300 MW), và Uông Bí mở rộng 2 (330 MW). Hiện tại, cả hai nhà máy đã phát điện hòa vào lưới điện quốc gia.

Với bề dày lịch sử hình thành và phát triển, và những đóng góp to lớn cho nền kinh tế đất nước, Nhiệt điện Uông Bí đã vinh dự được Đảng và Nhà nước 2 lần phong tặng danh hiệu Anh hùng: Anh hùng Lao động (1973) và Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (1998), cùng nhiều Huân chương, cờ thi đua khác.

Ra đời vào năm 1994, Ban QLDA Nhiệt điện 3 (ANĐ3)  ban đầu là Ban Quản lý công trình Nhà máy Nhiệt điện Phú Mỹ, đến năm 1995, Ban đổi tên thành “Ban quản lý dự án các nhà máy điện Phú Mỹ - Bà Rịa” trực thuộc Tổng Công ty Điện lực Việt Nam  và đến ngày 14/04/2003 chính thức đổi tên thành Ban quản lý Dự án Nhiệt điện 3 theo Quyết định của Hội đồng Quản trị Tập đoàn Điện lực Việt Nam.

Ban có chức năng quản lý công tác chuẩn bị đầu tư và đầu tư các dự án nhiệt điện; thực hiện một số nhiệm vụ tư vấn: Tư vấn giám sát thi công các công trình nhiệt điện và các công trình lưới điện đồng bộ; tư vấn thẩm tra dự toán và tổng dự toán công trình; tư vấn lập hồ sơ mời thầu và đánh giá thầu; tư vấn quản lý, điều hành các dự án nhiệt điện.

ANĐ3 đã thực hiện hoàn thành một số dự án Nhiệt điện tubin khí và tuabin hơi tại Trung tâm điện lực Phú Mỹ với tổng công suất 1974 MW, bao gồm: Dự án Nhiệt điện Phú Mỹ 1 (1090MW); Dự án Nhiệt điện Phú Mỹ 2 (288MW); Dự án Nhiệt điện Phú Mỹ 2.1 (160MW); Dự án Nhiệt điện Phú Mỹ 2.1 (276 MW); và Dự án Nhiệt điện Phú Mỹ 2.1 (160MW).

Ban cũng đã thực hiện hoàn thành một số công trình đường dây và trạm 500kV để tải điện của các nhà máy Phú Mỹ 4, Phú Mỹ 2.2, Phú Mỹ 3; đấu nối 220kV với Phú Mỹ 1, và các công trình đường dây và trạm 220/110kV.

      Hiện nay, đơn vị đang đang quản lý các dự án nhiệt điện than tại Trung tâm Điện lực Duyên Hải – Trà Vinh, bao gồm: Dự án Nhà máy điện Duyên Hải 1 (1200 MW); Duyên Hải 2 (1200MW); Duyên Hải 3 (600MW); Dự án Cảng biển Trung tâm Điện lực Duyên Hải (12 triệu tấn than/năm), Khu bến tiếp nhận dầu 1.000 DWT phục vụ vận hành của các nhà máy điện.

Mục tiêu của ANĐ3 là thực hiện tốt công tác quản lý xây dựng các dự án thuộc Trung tâm điện lực Duyên Hải – Trà Vinh đảm bảo đúng tiến độ, chất lượng. Ban cũng đang chuẩn bị tốt lực lượng nhân sự để tiếp quản và vận hành khi các nhà máy đi vào hoạt động, phấn đấu xây dựng Ban trở thành một đơn vị ngày càng vững mạnh, hoạt động chuyên nghiệp của EVNGENCO1.

Nhắc đến công trình thủy điện đầu tiên ở nước ta chắc hẳn nhiều người đã biết đó chính là nhà máy Thủy điện Đa Nhim (160MW), là nhà máy thủy điện đem lại giá trị kinh tế cao bậc nhất trong hệ thống thủy điện cả nước, thuộc nấc thang trên cùng của hệ thống sông Đồng Nai.

Nhà máy được đưa vào vận hành từ năm 1964. Năm 1994, có thêm nhà máy thủy điện Sông Pha (7,5MW)  được xây dựng để tận dụng nguồn nước sau khi chạy máy Đa Nhim. Năm 2001, Nhà máy Thủy điện Đa Nhim tiếp quản thêm hai nhà máy thủy điện Hàm Thuận (300MW) và thủy điện Đa Mi (175MW) hình thành nên Công ty thủy điện Đa Nhim - Hàm Thuận - Đa Mi (ĐHĐ). Tháng 10 năm 2011 Công ty đã chuyển đổi sang hình thức Công ty Cổ phần.

ĐHĐ có tổng số 269 CBCNVC, với hệ thống quản lý chất lượng  theo tiêu chuẩn ISO 9001: 2008, và đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật, công nhân lành nghề, giàu kinh nghiệm và nhiệt huyết; máy móc công nghệ hiện đại. Công ty hiện đang vận hành 04 nhà máy thủy điện với 13 tổ máy có tổng công suất 642,5 MW, lớn thứ 4 cả nước về thủy điện chỉ sau Thủy điện Sơn La, Hòa Bình, Ialy, hàng năm hòa lưới điện quốc gia bình quân trên 2,6 tỷ kWh điện.Công ty còn có nhiều năng lực và kinh nghiệm trong các lĩnh vực: sửa chữa, bảo trì, cải tạo và thí nghiệm hiệu chỉnh các nhà máy điện, trạm điện, dây chuyền công nghiệp; tư vấn xây dựng nguồn điện, tư vấn quản lý dự án, tư vấn giám sát, hỗ trợ vận hành, đào tạo lực lượng vận hành,...

Ngoài nhiệm vụ phát điện, các hồ chứa thủy điện do ĐHĐ quản lý còn góp phần quan trọng trong việc điều hòa nguồn nước cho các vùng hạ du, gia tăng lưu lượng dòng chảy đến hồ Trị An trong mùa khô, làm sản lượng cho Nhà máy thủy điện Trị An.

Mục tiêu phát triển mà ĐHĐ đang hướng tới là "Chiều sâu, ổn định và bền vững".  Vì với đặc thù của lĩnh vực thủy điện, những thay đổi về chiều sâu góp phần đem lại những giá trị bền vững cho sự phát triển con người.

Apart from the power generation task, the hydropower storage ponds managed by DHD also play an important role in regulating water sources for lowlands, increasing stream flows running to Tri An Lake in the dry season, creating output for Tri An Hydropower Plant.

Development objectives that DHD is approaching are "Depth, stability and sustainability", because of specific characteristics of hydropower section, changes of depth will contribute a part to bring sustainable value for development of human resource.

Nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Quảng Ninh tại Phường Hà Khánh, Thành Phố Hạ Long xinh đẹp, vùng có trữ lượng than lớn nhất cả nước, Công ty Cổ phần Nhiệt điện Quảng Ninh có vị trí không thể thuận lợi hơn cho việc tổ chức sản xuất và cung ứng điện năng cho hệ thống điện quốc gia.

Công ty Cổ phần Nhiệt điện Quảng Ninh có các Cổ đông sáng lập gồm: EVN (80% cổ phần); Tổng Công ty Than Việt Nam; Tổng Công ty lắp máy Việt Nam, được giao làm chủ đầu tư xây dựng 02 dự án: Dự án Nhà máy Nhiệt điện Quảng Ninh 1 và Quảng Ninh 2 có tổng công suất 1.200 MW, sản lượng là 7,2 tỷ kWh/năm. Nhiệt điện Quảng Ninh có ý nghĩa tăng cường độ tin cậy cấp điện cho khu vực tam giác kinh tế Hải Phòng - Hà Nội - Quảng Ninh; giảm vốn đầu tư xây dựng lưới điện 110/220 KV tại khu vực và trở thành một trong các trung tâm nhiệt điện lớn nhất cả nước.

Nhà máy Nhiệt điện Quảng Ninh sử dụng công nghệ lò than phun tiên tiến, lắp đặt các thiết bị hiện đại để xử lý môi trường triệt để nhất nhằm giảm thiểu các ảnh hưởng từ quá trình hoạt động của Nhà máy tới môi trường. Theo thiết kế hệ thống xử lý chất thải của Nhà máy Nhiệt điện Quảng Ninh có khả năng xử lý 104,7m3/h, và 3 hệ thống xử lý khí thải: hệ thống lọc bụi tĩnh điện, hệ thống khử lưu huỳnh, hệ thống ống khói. Nhà máy đã gắn các thiết bị giám sát thông số môi trường tự động để đo nồng độ khí O­2, CO2, CO, NOx, SOx, bụi của khí thải để từ đó điều chỉnh chế độ cháy và 3 hệ thống xử lý môi trường đạt tiêu chuẩn môi trường Việt Nam.

Hiện nay, lãnh đạo và tập thể CBCNV Công ty đang vận hành ổn định 2 tổ máy của Dự án Quảng Ninh 1, phấn đấu trong năm 2013 chính thức đưa 02 tổ máy Dự án Quảng Ninh 2 phát điện thương mại và xây dựng Nhiệt điện Quảng Ninh thành nhà máy nhiệt điện kiểu mẫu.

Công ty cổ phần EVN Quốc tế (viết tắt là EVNI) trước đây là Công ty cổ phần EVN Campuchia, được thành lập và chính thức đi vào hoạt động từ tháng 10 năm 2007, có vốn điều lệ 2.400 tỷ đồng với các cổ đông sáng lập bao gồm Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam, Công ty TNHH MTV Tổng Công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam, Ngân hàng Thương mại cổ phần An Bình, Tập đoàn SOVICO và một số đơn vị trong và ngoài ngành Điện. Định hướng và chiến lược chủ yếu của EVNI là tập trung phát triển các ngành nghề kinh doanh chủ đạo của Công ty như là: sản xuất và truyền tải, kinh doanh mua bán điện trong và ngoài nước; xây dựng vận hành các công trình điện có xem xét mở rộng kinh doanh sang các lĩnh vực mà Công ty có lợi thế kinh doanh; đồng thời từng bước khẳng định thương hiệu ngành điện Việt Nam trong khu vực. Các dự án do EVNI đang triển khai các thủ tục đầu tư chủ yếu tại nước bạn Lào và Campuchia gồm có: Dự án thủy điện Hạ Sê San 2; Hạ Sê San 1/Sê San 5; Dự án Thủy điện SeKong và Dự án Thủy điện Nậm Mô 1. Ngoài ra, nhằm đảm bảo an ninh năng lượng và môi trường bền vững trên cơ sở khai thác tối đa nguồn năng lượng thủy điện trong khu vực, EVNI còn đảm nhận nhiệm vụ tư vấn quản lý dự án và phối hợp cùng với Công ty Tư vấn xây dựng điện 3 & 4 (PECC3 & 4), tiến hành khảo sát, lập quy hoạch và triển khai dự án đường dây 500kV đấu nối lưới điện Việt Nam - Lào - Campuchia sử dụng nguồn vốn tài trợ của ADB. Định hướng của EVNI là tiếp tiếp tục mở rộng đầu tư sang các nước trong khu vực và trong khối ASEAN, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của các nước có dự án đầu tư; đồng thời thông qua lưới điện liên kết xuất khẩu điện năng về Việt Nam nhằm giải quyết một phần tình trạng thiếu điện trong những năm tới, đảm bảo cho hệ thống điện trong nước vận hành được an toàn và tin cậy./.

Công ty Cổ phần Phát triển Điện lực Việt Nam (VNPĐ) được thành lập ngày 12/07/2002 bởi 5 cổ đông gồm Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Công đoàn Điện lực Việt Nam, Công ty cổ phần Miền Đông, Công ty cổ phần chế tạo thiết bị Điện Đông Anh và Công ty cổ phần Tư vấn XD điện 2. Trải qua mười năm phát triển, Công ty đã không ngừng lớn mạnh, từng bước thực hiện tăng vốn điều lệ, từ 13,7 tỷ đồng và 14 nhân viên ban đầu, đến nay đã tăng lên 1.000 tỷ đồng với gần 200 CBCNV. Với chức năng nhiệm vụ chính là đầu tư xây dựng các công trình thuỷ điện và sản xuất kinh doanh điện năng,.... hiện Công ty đang quản lý vận hành nhà máy thuỷ điện Nậm Má – Hà Giang (3,2 MW), sản lượng hàng năm khoảng 10 triệu kWh, Nhà máy thủy điện Bắc Bình (2 x 16,5MW), sản lượng 127 triệu kWh, và đang đầu tư xây dựng các dự án nguồn điện như: Nhà máy thuỷ điện Khe Bố (100MW), sản lượng 411 triệu kWh, chuẩn bị đầu tư xây dựng Nhà máy thủy điện Nậm Khiêu. Thực hiện khẩu hiệu “Đầu tư liên tục - Sản xuất kinh doanh hiệu quả - Phát triển bền vững”, định hướng phát triển trong 5 năm 2012-2016 của Công ty là: Hoàn thành đầu tư xây dựng đưa nhà máy thủy điện Khe Bố vào vận hành thương mại trong Quý 3/2013; đảm bảo sản xuất điện an toàn với tổng sản lượng điện hàng năm dự kiến đạt 537,7 triệu kWh; Trung tu, đại tu các tổ máy, sửa chữa thường xuyên các hạng mục công trình của các nhà máy theo quy định; Tìm kiếm và đầu tư thêm dự án thủy điện mới; Xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001-2008 vào công tác quản lý từ công ty đến các đơn vị nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý điều hành của công ty; và mở mang một số ngành nghề khác. Sự ra đời của Công ty Cổ phần Phát triển Điện lực Việt Nam không chỉ góp phần khai thác tốt nguồn thuỷ năng, sản xuất điện phục vụ phát triển đất nước, mà về lâu dài còn mang lại nguồn lợi nhuận ổn định cho các cổ đông, đặc biệt là CBCNV ngành Điện.